15/04/2026
Tin tức & Báo cáo mới nhất / Vietnam Briefing
Bình luận: Không có bình luận.
Việc Việt Nam phê duyệt hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm giai đoạn 2025-2026 đánh dấu một bước tiến lớn từ những cam kết khí hậu rộng lớn sang việc điều tiết carbon thực tiễn. Theo Quyết định số 263/QĐ-TTg và Quyết định số 699/QĐ-BNNMT, Chính phủ đã thiết lập giới hạn phát thải thí điểm cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất thép và 51 nhà máy xi măng. Điều này đưa ngành điện, thép và xi măng trở thành những ngành đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kiểm soát phát thải theo hạn ngạch ở cấp cơ sở, báo hiệu một giai đoạn cụ thể hơn trong sự phát triển thị trường carbon của đất nước.
Việt Nam thông qua chương trình thí điểm hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025–2026.
Việc Việt Nam phê duyệt hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho giai đoạn 2025-2026 đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý từ các cam kết khí hậu chung chung sang các quy định cụ thể hơn dựa trên thị trường. Tại COP26 năm 2021, Việt Nam đã cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.[1]Và cam kết đó đã được cụ thể hóa thành một loạt các bước chính sách trong nước nhằm xây dựng thị trường carbon và siết chặt quản lý phát thải. Tháng 1 năm 2025, Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch thành lập và phát triển thị trường carbon của Việt Nam, vạch ra lộ trình thí điểm sàn giao dịch carbon trong nước từ giữa năm 2025 đến năm 2028 trước khi chính thức đi vào hoạt động từ năm 2029.[2]Như vậy, định hướng chính sách tổng thể đã rõ ràng: Việt Nam không chỉ theo đuổi các mục tiêu khí hậu dài hạn mà còn đang bắt đầu xây dựng các công cụ thể chế cần thiết để hạn chế, đo lường và cuối cùng là giao dịch khí thải trong các lĩnh vực phát thải cao.
Deputy Prime Minister Tran Hong Ha Chairs Meeting on Approval of Total Greenhouse Gas Emission Quotas for 2025–2026
Nguồn: Baochinhphu.vn
Hướng đi đó trở nên rõ ràng hơn vào ngày 9 tháng 2 năm 2026, khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 và 2026 theo Quyết định số 263/QĐ-TTg.[3]Các hạn ngạch thí điểm bao gồm 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất gang thép và 51 nhà máy xi măng, với tổng mức trần là 243.082.392 tấn CO2 cho năm 2025 và 268.391.454 tấn CO2 cho năm 2026. Quyết định cũng giao cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng, phân bổ hạn ngạch cho từng cơ sở và hướng dẫn thực hiện. Về cơ bản, đây là một bước đi quan trọng: thay vì thảo luận về sự phát triển của thị trường carbon một cách trừu tượng, Việt Nam đã bắt đầu áp đặt mức trần phát thải thực tế đối với một số ngành công nghiệp phát thải carbon cao nhất.
Để triển khai thực hiện việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm giai đoạn 2025-2026 theo Quyết định số 263/QĐ-TTg, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT ngày 27 tháng 2 năm 2026 phân bổ hạn ngạch thí điểm cho từng cơ sở thuộc ba lĩnh vực chính: nhiệt điện, sắt thép và xi măng.
Total quota allocation by sector
Đơn vị: Triệu tấn CO2
Nguồn: Tính toán của B&Company từ Quyết định số 699/QĐ-BNNMT
Như biểu đồ cho thấy, điện nhiệt chiếm tỷ trọng lớn nhất trong phân bổ hạn ngạch thí điểm ở cả hai năm, đạt 57,0% tổng số vào năm 2025 và 56,6% vào năm 2026. Xi măng đứng thứ hai, chiếm 30,2% vào năm 2025 và 29,9% vào năm 2026, trong khi sắt thép chiếm phần còn lại lần lượt là 12,8% và 13,5%. Mặc dù khối lượng hạn ngạch tăng lên ở cả ba lĩnh vực vào năm 2026, nhưng mô hình phân bổ tổng thể vẫn không thay đổi nhiều, với điện nhiệt tiếp tục chiếm ưu thế trong chương trình thí điểm với khoảng cách khá lớn.
Các đơn vị phát thải được phân bổ nhiều nhất trong các lĩnh vực điện lực, thép và xi măng của Việt Nam
Ở cấp độ công ty, bảng dưới đây liệt kê năm doanh nghiệp hàng đầu trong mỗi lĩnh vực nhận được hạn ngạch phát thải cao nhất theo chương trình thí điểm.
| Ngành | STT | Công ty | Năm thành lập | Quốc gia | Vị trí | Hạn ngạch được phân bổ
(Đơn vị: Triệu tấn CO2) |
|
| 2025 | 2026 | ||||||
| Quyền lực | 1 | CÔNG TY TNHH ĐIỆN LỰC MÔNG ĐÔN AES-VCM | 2010 | Hoa Kỳ | Quảng Ninh | 12.19 | 13.35
|
| 2 | CÔNG TY TNHH ĐIỆN LỰC VINH TAN 1 | 2013 | Trung Quốc | Lâm Đồng | 11.86 | 12.99
|
|
| 3 | CÔNG TY CỔ PHẦN NHIỆT ĐIỆN QUANG NINH | 2003 | Vietnam | Quảng Ninh | 11.1 | 12.15
|
|
| 4 | CN GENCO3 – CÔNG TY ĐIỆN NHIỆT ĐIỆN VINH TAN | 2014 | Vietnam | Lâm Đồng | 10.53 | 11.53
|
|
| 5 | CÔNG TY CỔ PHÂN NHIỆT ĐIỆN HẢI PHONG | 2002 | Vietnam | Hải Phòng | 10.24
|
11.23
|
|
| Thép | 6 | TẬP ĐOÀN THÉP FORMOSA HÀ TÍN | 2008 | Đài Loan | Hà Tĩnh | 13.67 | 15.93
|
| 7 | CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP HÒA PHÁT DŨNG QUẤT | 2017 | Vietnam | Quảng Ngãi | 11.22 | 13.08
|
|
| 8 | CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP HOA PHAT HAI DUONG | 2007 | Vietnam | Hải Dương | 4.5 | 5.24 | |
| 9 | CÔNG TY CỔ PHẦN SẮT THÉP THÁI NGUYÊN | 1998 | Vietnam | Thái Nguyên | 0.48 | 0.57 | |
| 10 | CÔNG TY CỔ PHẦN SẮT THÉP CAO BANG | 2006 | Vietnam | Cao Bằng | 0.4 | 0.46
|
|
| Xi măng | 11 | CÔNG TY TNHH LONG SON – NHÀ MÁY XI MĂNG LONG SON | 2016 | Vietnam | Thanh Hóa | 8.51 | 9.13
|
| 12 | CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG TẬP ĐOÀN THANH THANG | 2013 | Vietnam | Ha Nam | 6.85 | 7.5
|
|
| 13 | CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG XUAN THANH | 2012 | Vietnam | Ha Nam | 5.3 | 5.8
|
|
| 14 | SONG LAM.,JSC | 2004 | Vietnam | Nghệ An | 4.68 | 5.12
|
|
| 15 | CÔNG TY TNHH XI MĂNG NGHI SON | 2011 | Nhật Bản | Thanh Hóa | 3.88 | 4.24 | |
Nguồn: Bản tổng hợp của B&Company từ Quyết định số 699/QĐ-BNNMT
Tác động đến các ngành điện, thép và xi măng vào năm 2026
Quyền lực
Ngành điện Việt Nam bước sang năm 2026 trong bối cảnh nhu cầu tiếp tục tăng cao. Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tiêu thụ điện toàn quốc lần đầu tiên vượt quá 1 tỷ kWh trong một ngày, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi phụ tải hệ thống cao điểm đạt 48.789 MW, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong ngày đó, riêng điện than chiếm 55% tổng sản lượng điện, cho thấy dù đang đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện, Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào điện nhiệt để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt là vào giờ cao điểm.[4].
Chính sách hạn ngạch mới được phê duyệt do đó có khả năng sẽ tạo ra tác động rõ rệt nhất trong giai đoạn đầu tiên đối với ngành điện. Theo chương trình thí điểm, nhiệt điện nhận được khoảng 57% tổng hạn ngạch, và nhóm được bao gồm gồm 34 nhà máy: 22 nhà máy nhiệt điện than, 7 nhà máy nhiệt điện khí, 4 nhà máy nhiệt điện dầu và 1 nhà máy hỗn hợp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tuyên bố rằng tổng hạn ngạch đề xuất cho nhiệt điện thấp hơn 1,6–2% so với lượng khí thải dự kiến trong giai đoạn 2025–2026.[5]Tuy nhiên, giai đoạn thí điểm cũng được thiết kế để giúp các doanh nghiệp làm quen với MRV và việc tuân thủ quy định, và hạn ngạch sẽ được phân bổ miễn phí trong giai đoạn thí điểm. Do đó, tác động trong năm đầu tiên ít có khả năng là việc cắt giảm sản lượng đột ngột mà nhiều khả năng là việc báo cáo phát thải chặt chẽ hơn, quản lý hiệu quả nhiên liệu hiệu quả hơn và gây áp lực lớn hơn lên các nhà máy sử dụng nhiều than đá với cường độ carbon cao hơn.
Thép
Ngành thép Việt Nam bước vào năm 2026 với xu hướng phục hồi rõ rệt hơn, dù áp lực từ bên ngoài vẫn còn cao. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sản lượng thép thô năm 2025 vượt quá 24,7 triệu tấn, mức cao nhất trong 5 năm qua và cao hơn khoảng 12% so với năm 2024. Tiêu thụ thép thô đạt 24,1 triệu tấn, tăng 12,9%, trong khi xuất khẩu thép thô tăng lên 3,15 triệu tấn, tăng 12,8%. Đồng thời, ngành này đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ các yêu cầu thương mại xanh, đặc biệt khi thép là một trong những ngành công nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU.[6].
Chính sách thí điểm hạn ngạch mới được phê duyệt bổ sung thêm một lớp quản lý carbon trong nước vào câu chuyện phục hồi đó. Chương trình thí điểm bao gồm 25 nhà máy sản xuất sắt thép, trong đó có 6 nhà máy BF-BOF, 9 nhà máy EAF, 9 nhà máy IF và 1 nhà máy BF-EAF, với các nhà máy BF-BOF nhận được phần hạn ngạch lớn nhất vì chúng phát thải nhiều hơn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết hạn ngạch thép được đề xuất thấp hơn khoảng 3,8–4,4% so với lượng khí thải dự kiến trong giai đoạn 2025–2026. Do đó, trong năm đầu tiên, chính sách này nhiều khả năng sẽ tăng cường việc tính toán phát thải ở cấp nhà máy, kiểm soát hiệu quả năng lượng và so sánh hiệu suất giữa các nhà sản xuất tích hợp phát thải nhiều carbon hơn và các phương pháp phát thải tương đối thấp hơn như EAF và IF, hơn là gây ra sự sụt giảm ngay lập tức trong sản lượng của ngành.
Xi măng
Ngành xi măng Việt Nam cũng bước vào năm 2026 trong bối cảnh nhu cầu tốt hơn, nhưng tình trạng dư cung về cơ cấu vẫn còn tồn tại. Theo số liệu ngành công bố đầu năm 2026, tổng công suất thiết kế đạt trên 128 triệu tấn, trong khi sản lượng xi măng thực tế năm 2025 đạt khoảng 117 triệu tấn. Tiêu thụ xi măng trong nước đạt khoảng 74,42 triệu tấn, tăng hơn 17% so với năm ngoái, cho thấy thị trường nội địa đã phục hồi đáng kể trong năm 2025, dù ngành vẫn hoạt động với nguồn cung lớn hơn nhu cầu trong nước.[7]Bộ Xây dựng cũng nhiều lần nhấn mạnh rằng ngành công nghiệp xi măng Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với đặc điểm là công suất lắp đặt cao và tình trạng dư cung kéo dài.
Trong bối cảnh đó, chính sách hạn ngạch có khả năng làm tăng áp lực khử carbon trong hoạt động sản xuất hơn là điều chỉnh sản lượng ngay lập tức. Ngành xi măng chiếm khoảng 30% tổng hạn ngạch thí điểm, bao gồm 51 cơ sở sản xuất clinker, và hạn ngạch đề xuất thấp hơn khoảng 4–4,5% so với lượng khí thải dự kiến trong giai đoạn 2025–2026. Vì xi măng là một ngành khó giảm thiểu khí thải với lượng khí thải đáng kể từ quá trình sản xuất clinker, tác động trong năm đầu tiên có thể tập trung vào việc giám sát khí thải tốt hơn, các biện pháp khuyến khích mạnh mẽ hơn để giảm cường độ sử dụng clinker, và việc sử dụng rộng rãi hơn các nhiên liệu thay thế và nâng cấp hiệu quả, trong khi hiệu ứng cạnh tranh mạnh mẽ hơn sẽ xuất hiện dần dần khi các ràng buộc về carbon trở nên nghiêm ngặt hơn.
Kết luận
Nhìn chung, chương trình thí điểm hạn ngạch 2025-2026 là bước đi quan trọng đầu tiên trong việc biến quản lý carbon thành yêu cầu thực tiễn đối với các ngành công nghiệp phát thải cao tại Việt Nam. Trong ngắn hạn, tác động chính của chương trình có thể là việc giám sát phát thải chặt chẽ hơn, áp lực tuân thủ và tập trung hơn vào hiệu quả sử dụng carbon trong các ngành điện, thép và xi măng. Về lâu dài, giai đoạn thí điểm này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho một thị trường carbon hoàn thiện và cạnh tranh hơn.
Đọc thêm
Giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp ở Việt Nam: Công nghệ mới nổi
Phát triển Hydro xanh và Amoniac xanh tại Việt Nam: Thực trạng và tiềm năng tăng trưởng
* Lưu ý: Nếu bạn muốn trích dẫn thông tin trong bài viết này, vui lòng ghi rõ nguồn và kèm theo link bài viết để đảm bảo tôn trọng bản quyền.
| B&Company, Inc.
Công ty nghiên cứu thị trường của Nhật Bản đầu tiên tại Việt Nam từ năm 2008. Chúng tôi cung cấp đa dạng những dịch vụ bao gồm báo cáo ngành, phỏng vấn ngành, khảo sát người tiêu dùng, kết nối kinh doanh. Ngoài ra, chúng tôi đã phát triển cơ sở dữ liệu của hơn 900,000 công ty tại Việt Nam, có thể được sử dụng để tìm kiếm đối tác kinh doanh và phân tích thị trường. Xin vui lòng liên hệ với chúng tôi nếu bạn có bất kỳ thắc mắc hay nhu cầu nào. info@b-company.jp + (84) 28 3910 3913 |
[1] https://primeminister.chinhphu.vn/full-remarks-by-pm-pham-minh-chinh-at-cop26-11240273.htm
[2] https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/01/232-ttg.signed.pdf
[3] https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/02/263-ttg.signed.pdf
[4] https://moit.gov.vn/tin-tuc/su-dung-nang-luong-tiet-kiem-va-hieu-qua/nhu-cau-su-dung-dien-toan-quoc-lan-dau-dat-tren-1-ty-kwh-trong-nam-2026.html
[5] https://mae.gov.vn/chuan-bi-thi-iem-phan-bo-han-ngach-phat-thai-khi-nha-kinh-20664.htm
[6] https://vsa.com.vn/nganh-thep-viet-nam-nhin-lai-2025-trien-vong-2026/
[7] https://ximang.vn/vncr-2025-tieu-thu-xi-mang-noi-dia-giu-vai-tro-hap-thu-san-luong-toan-nganh

