29/04/2026
Tin tức & Báo cáo mới nhất / Vietnam Briefing
Bình luận: Không có bình luận.
Những tháng đầu năm 2026 đã trở thành một phép thử căng thẳng đối với khu vực Đông Nam Á. Sự leo thang mạnh mẽ trong căng thẳng ở Trung Đông, dẫn đến việc đóng cửa eo biển Hormuz, đã làm gián đoạn dòng chảy nhập khẩu khoảng 80% khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) và dầu thô của khu vực.1 Cú sốc dầu mỏ này không chỉ làm tăng giá nhiên liệu mà còn phơi bày sự mong manh về cấu trúc của các nền kinh tế phụ thuộc vào thị trường nhiên liệu hóa thạch toàn cầu.3
Mặc dù cuộc khủng hoảng mang tính khu vực, nhưng phản ứng lại ngày càng rời rạc. Lộ trình chuyển đổi khác nhau đáng kể giữa các quốc gia thành viên: một số tăng cường trợ cấp bảo hộ, trong khi những nước khác, đáng chú ý nhất là thông qua quá trình chuyển đổi xanh của Việt Nam, đã đẩy nhanh việc chuyển hướng sang năng lượng tái tạo sản xuất trong nước như một công cụ để tồn tại nền kinh tế quốc gia.
Mức độ ảnh hưởng của biến động giá dầu: Nước nhập khẩu so với nước xuất khẩu
Cú sốc chia cắt Đông Nam Á dọc theo một đường đứt gãy: vị thế dầu mỏ ròngCác nước nhập khẩu: Philippines, Thái Lan, Việt Nam và Singapore. Đối mặt với áp lực lạm phát đình trệ ngay lập tức khi chi phí năng lượng lan rộng khắp chuỗi cung ứng và hậu cần. Philippines (phụ thuộc vào vùng Vịnh với năng lượng 90%) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia vào tháng 3 năm 2026; Thái Lan đã áp giá trần dầu diesel; Singapore đã điều chỉnh dự báo lạm phát năm 2026 tăng lên mặc dù nắm giữ hơn 200 ngày dự trữ chiến lược.[1].
Nhà xuất khẩu Indonesia và Malaysia Đã có sự gia tăng doanh thu, nhưng con số này đang nhanh chóng bị giảm sút. Indonesia đã đặt toàn bộ ngân sách trợ cấp nhiên liệu trị giá 22,5 tỷ USD ở mức 70 USD/thùng; trong khi giá dầu Brent (được dùng làm chuẩn mực chính cho giá dầu toàn cầu) ở mức gần 104 USD.[2]Thâm hụt ngân sách đang ngày càng gia tăng và gây áp lực lên đồng rupiah. Malaysia có khả năng chống chịu tốt hơn - các cải cách tài chính gần đây cho phép nước này duy trì trợ cấp BUDI95 - nhưng không hoàn toàn miễn nhiễm, vì nước này vẫn nhập khẩu dầu thô nặng để lọc dầu trong nước và vẫn chịu ảnh hưởng bởi sự biến động giá dầu chuẩn.
Bảng 1: Mức độ dễ bị tổn thương trước cú sốc dầu mỏ ở cấp quốc gia — Đông Nam Á
*Lưu ý: PH: Philippines, VN: Việt Nam, TH: Thái Lan, SG: Singapore, ID: Indonesia, MY: Malaysia
| Số liệu | Các nước nhập khẩu ròng: PH, VN, TH, SG | Các nước xuất khẩu ròng — ID, MY |
| Vị thế giao dịch | Phụ thuộc vào dầu thô và/hoặc sản phẩm tinh chế nhập khẩu. | Các nước xuất khẩu ròng hydrocarbon; một phần được bù đắp bởi các nghĩa vụ trợ cấp trong nước. |
| Sự phụ thuộc vào dầu thô của Trung Đông[3] | • VN: ~85%
• SG: ~77% • TH: ~70% • Độ pH: ~52% |
• ID: ~35% dầu thô từ vùng Vịnh (trợ cấp vẫn làm tăng chi phí trợ cấp)
• MY: ~25% (tái nhập khẩu dầu thô nặng vùng Vịnh để pha trộn với nguồn cung trong nước) |
| dự trữ chiến lược[4] | • SG: Hơn 200 ngày
• TH & PH: 40~60 ngày • VN: ~65 ngày |
• MY: ~60 ngày
• ID: ~20–30 ngày |
| Rủi ro chính | Lạm phát do chi phí đẩy và áp lực tiền tệ:
• IMF dự báo lạm phát ở Đông Nam Á sẽ tăng lên 2,6% vào năm 2026.[5]; • Mỗi lần giá dầu Brent tăng 1 bảng Anh/15 bảng Anh/thùng sẽ làm tăng thâm hụt tài khoản vãng lai của Philippines khoảng 0,7% GDP.[6] |
Mở rộng thâm hụt ngân sách thông qua các nghĩa vụ trợ cấp:
• Ngân sách trợ cấp được đặt ở mức US$70/thùng; giá dầu Brent hiện ở mức ~US$104/thùng2 |
| Tính dễ bị tổn thương của hỗn hợp năng lượng | Độ nhạy cao đối với giao dịch LNG/Brent tại chỗ:
• Nguồn cung dầu thô Nghi Sơn của Việt Nam phụ thuộc vào dầu thô của Kuwait.[7]; • TH phụ thuộc vào khí đốt vùng Vịnh để sản xuất điện.[8] |
• ID: Phụ thuộc nhiều vào than đá và dầu cọ trong nước;
• MY: Mô hình dầu thô pha trộn (xuất khẩu dầu thô nhẹ ngọt và nhập khẩu dầu thô nặng) giúp giảm thiểu rủi ro, nhưng chi phí trợ cấp vẫn bị ảnh hưởng. |
| Truyền chấn động | Tăng giá bán lẻ và phụ phí vận chuyển[9]:
• PH: tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia; • VN: Các chuyến bay nội địa bị hủy; • TH: Các nhà máy hóa dầu trọng điểm ngừng hoạt động |
Áp lực tín dụng và tiền tệ quốc gia:
• Đồng tiền của Indonesia suy yếu; chênh lệch tỷ giá thực tế so với USD thu hẹp; 6 • Triển vọng tín dụng của tôi ổn định nhờ cơ cấu doanh thu đa dạng (hưởng lợi từ xuất khẩu khí đốt khi giá năng lượng tăng). |
| Phản hồi chính sách[10] | • VN: Biểu giá xăng dầu 0% (tháng 4 – tháng 6 năm 2026)[11] ; khuyến khích làm việc tại nhà
• PH: cắt giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, Công ty Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC) nhập khẩu khẩn cấp, tuần làm việc 4 ngày • TH: Giới hạn giá dầu diesel, lệnh làm việc tại nhà • SG: Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) thắt chặt chính sách; dự trữ tài chính được triển khai |
• ID: Trợ cấp nhiên liệu được duy trì; áp dụng hình thức làm việc từ xa.
• MY: Trợ cấp BUDI95 được duy trì; “đủ dư dả ngân sách” đến giữa năm 2026 |
Tổng hợp của B&Company

