15/09/2019
Đánh giá ngành
Bình luận: Không có bình luận.
Yếu tố y tế của Việt Nam đang phát triển nhưng vẫn còn rất nhiều thách thức.
Theo GSO, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng lên 2.587 USD vào năm 2018, tăng 8.3% so với năm 2017. Cùng với đó, chi tiêu y tế bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng theo thời gian, năm 2016 đạt khoảng 123 USD, tăng 5% so với năm 2015 và 38% so với năm 2011. Khoản chi này cũng chiếm 5.66% GDP. Bên cạnh đó, tính đến tháng 5/2019, số người tham gia bảo hiểm y tế công đã đạt tỷ lệ 89% dân số, vượt mục tiêu của Chính phủ 2.2%. Những chỉ số này có thể cho thấy nhận thức về sức khỏe của người dân đã được nâng cao.
Hơn nữa, dân số Việt Nam chính thức bước vào ‘giai đoạn già hóa’ từ năm 2011 và nằm trong số những quốc gia già hóa nhanh nhất thế giới, dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng nhanh. Tỷ lệ người trên 60 tuổi trong tổng dân số năm 2011 là 9.9%, nhưng đã tăng lên 11.95% vào năm 2018 và dự kiến đạt 17.5% vào năm 2030. Mức tăng này nhanh hơn nhiều so với các nước láng giềng như Indonesia (8.2% năm 2015 và 13.2% vào năm 2030), Philippines (7.3% năm 2015 và 10.3% vào năm 2030). Theo WHO, hệ thống y tế cần được phát triển hơn nữa để chăm sóc người cao tuổi khi số ca ung thư, sa sút trí tuệ, v.v. gia tăng ở độ tuổi này.
Xét về yếu tố nguồn cung, tình trạng quá tải bệnh viện cũng là một vấn đề lớn. Năm 2016, Việt Nam được ghi nhận có 1161 bệnh viện công và 185 bệnh viện tư nhân. Tỷ lệ giường bệnh trên 10.000 dân của họ là 26.5 vào năm 2018, vượt mục tiêu (26) do Quốc hội và Chính phủ giao cho năm 2018. Tuy nhiên, tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trung ương vẫn tiếp diễn. Theo các báo cáo trong những năm gần đây, một số bệnh viện tuyến trung ương vẫn có công suất sử dụng giường bệnh trên 100% như Bệnh viện Đại học Y Dược và Bệnh viện K, một số vượt 120% như Bệnh viện Nhi I và Bệnh viện Chợ Rẫy. Đặc biệt, tỷ lệ này tại Bệnh viện Bạch Mai còn cao hơn 160%.
Tình trạng quá tải không chỉ khiến bệnh nhân không hài lòng vì thời gian chờ đợi lâu mà còn làm thái độ của bác sĩ và điều dưỡng không thực sự tốt do phải làm việc trong điều kiện căng thẳng. Tháng 7/2019, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh công bố một khảo sát về mức độ không hài lòng của bệnh nhân khi đến khám, ghi nhận 3.693 phản hồi không hài lòng, tăng 27% so với tháng trước (2.914); nguyên nhân phổ biến nhất của sự không hài lòng vẫn là thủ tục đăng ký, thái độ phục vụ và thời gian chờ đợi lâu.
Theo thống kê chung về nguồn nhân lực ngành y tế, số bác sĩ trên 10.000 dân năm 2017 là 7.44, giảm 4% so với năm 2016 (7.75). Chỉ số này thấp hơn nhiều so với Singapore (24), Thái Lan (18) và Malaysia (15). Hơn nữa, phần lớn bác sĩ lựa chọn làm việc tại các bệnh viện tuyến trên và khu vực đô thị của Việt Nam, nơi cơ sở vật chất và nguồn lực y tế phát triển hơn. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu dịch vụ điều trị y tế sẵn có ở khu vực nông thôn, các bệnh viện tuyến dưới và bệnh viện địa phương. Khảo sát mới nhất của Bộ Y tế tại các trạm y tế thuộc 26 xã cho thấy năm 2018 chỉ có 3 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Yên Bái có đủ bác sĩ tại các trạm y tế, khoảng 30% số trạm này không có bác sĩ, lương y hoặc dược sĩ.
Một xu hướng gia tăng về điều trị ở nước ngoài
Mặc dù nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao, tình trạng quá tải, thiếu nhân viên y tế, thiết bị phẫu thuật và hồi sức cấp cứu lạc hậu vốn diễn ra khá thường xuyên tại các cơ sở y tế đã khiến người Việt Nam phải chi khoảng 2 tỷ USD để ra nước ngoài sử dụng dịch vụ y tế chất lượng cao trong năm 2017, gấp đôi năm 2013 (1 tỷ USD) và cao hơn con số của Indonesia trong cùng năm (1,4 tỷ USD).
