13/06/2025
Tin tức & Báo cáo mới nhất / Vietnam Briefing
Bình luận: Không có bình luận.
Bức tranh kinh tế khu vực Bắc Trung Bộ và Trung Bộ ven biển Việt Nam[1] khu vực đang chuẩn bị chuyển đổi sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính vào năm 2025. Sự điều chỉnh chiến lược này, dự kiến có hiệu lực vào ngày 15 tháng 8 theo Kết luận số 157-KL/TW[2]được ký ngày 25 tháng 5, nhằm mục đích cải thiện quản trị, hợp lý hóa việc phân bổ nguồn lực và thúc đẩy kết nối khu vực vì sự phát triển lâu dài.
Tổng quan về Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung sau khi sáp nhập đơn vị hành chính năm 2025
Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là trung tâm công nghiệp - dịch vụ - đô thị ven biển lớn của cả nước, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của miền Trung. Theo Quyết định số 759/QĐ-TTg[3], những thay đổi chính bao gồm việc sáp nhập các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị và việc hợp nhất thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam thành một thành phố trực thuộc trung ương duy nhất. Các tỉnh còn lại, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và thành phố Huế, vẫn giữ nguyên ranh giới hành chính của mình nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của các chính sách khu vực rộng hơn.
The North Central and Central Coastal provincial-level administrative units sau khi sáp nhập năm 2025
Nguồn: B&Company Việt Nam
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng năng động do vị trí chiến lược, bờ biển dài và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Vùng này chiếm 10% trong tổng GRDP của Việt Nam là 1.123 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng gần 9% vào năm 2024. Sau khi sáp nhập, vùng có sự pha trộn giữa các địa phương có nền kinh tế lớn và nhỏ, trong đó Thanh Hóa dẫn đầu vùng với GRDP năm 2024 khoảng 320 nghìn tỷ đồng, tiếp theo là Thành phố Đà Nẵng, vượt qua Nghệ An do sáp nhập với Quảng Nam với GRDP là 280 nghìn tỷ đồng. Thành phố Huế, không có bất kỳ sự sáp nhập nào, đã công bố GRDP thấp nhất trong vùng và thấp nhất trong số tất cả các thành phố trực thuộc trung ương, ở mức 80 nghìn tỷ đồng.
Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2024 của các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung sau khi sáp nhập hành chính
| STT | Các tỉnh | Dân số
(Đơn vị: nghìn người) |
Tổng diện tích (Đơn vị: Km2) | GDP
(Đơn vị: Tỷ VND) |
Tốc độ tăng trưởng
(Đơn vị: %) |
| 1 | Thanh Hóa | 3,764 | 11,115 | 318,752 |
12.2 |
| 2 | Thành phố Đà Nẵng | 2,819 | 11,860 | 279,907 | 7.3 |
| 3 | Nghệ An | 3,442 | 16,487 | 216,943 | 8.0 |
| 4 | Quảng Trị | 1,584 | 12,700 | 113,688 | 6.6 |
| 5 | Hà Tĩnh | 1,330 | 5,994 | 112,855 | 7.5 |
| 6 | Thành phố Huế | 1,236 | 4,947 | 80,000 | 8.2 |
| Tổng cộng | 14,175 | 63,103 | 1,122,145 | 8.8 | |
Nguồn: Nghị quyết số 60-NQ/TW, Quyết định số 759/QĐ-TTg, Tổng cục Thống kê (GSO), Cục Thống kê Tỉnh, Tổng hợp B&Company
Đặc điểm kinh tế vùng và tình hình đầu tư của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Việt Nam có vị trí địa kinh tế chiến lược là vùng chuyển tiếp kết nối Bắc Việt Nam, Tây Nguyên và hành lang kinh tế Đông-Tây, nối Lào, Thái Lan và Myanmar với Thái Bình Dương. Sự đa dạng về địa lý của khu vực, được bao bọc bởi núi ở phía tây và Biển Đông ở phía đông, định hình định hướng phát triển của khu vực theo hướng kết hợp cân bằng giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Khu vực này cũng đóng vai trò là hành lang giao thông và năng lượng quan trọng của đất nước, với các tuyến đường cao tốc, đường sắt và cảng biển chính tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập khu vực. Những thế mạnh về vị trí này đã thu hút ngày càng nhiều đầu tư vào cơ sở hạ tầng, ngành chế biến và sản xuất, năng lượng tái tạo và du lịch, tạo tiền đề cho sự tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc gia và toàn cầu.



