11/03/2025
Tin tức & Báo cáo mới nhất / Vietnam Briefing
Bình luận: Không có bình luận.
Nguồn cung năng lượng sơ cấp của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và các nguồn năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, trước nhu cầu điện ngày càng tăng, Chính phủ đang tìm kiếm các giải pháp hiệu quả, như điện hạt nhân.
Tổng quan về điện hạt nhân tại Việt Nam
Việt Nam vẫn chưa xây dựng nhà máy điện hạt nhân và tiếp tục phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch và năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng. Tính đến năm 2024, nhiên liệu hóa thạch vẫn là nguồn năng lượng chủ đạo, chiếm 43% tổng sản lượng năng lượng. Thủy điện đóng góp 28%, trong khi các nguồn năng lượng tái tạo, bao gồm điện gió và điện mặt trời, chiếm 27%. 2% còn lại là năng lượng nhập khẩu từ các quốc gia láng giềng[1].
Vietnam energy production in 2024 by types
Đơn vị: 100% = 84.360 MW

Nguồn: Năng lượng Việt Nam trực tuyến
Tuy nhiên, tại Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương diễn ra vào tháng 11 năm 2024, chủ trương khôi phục các dự án điện hạt nhân đã tạm dừng kể từ Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa XIV vào năm 2016[2]. Cụ thể, việc khôi phục này nhấn mạnh việc xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, với tổng công suất lắp đặt 4.000 MW[3].
Định hướng của Chính phủ về việc sử dụng năng lượng hạt nhân
Ngày 5 tháng 2 năm 2025, Chính phủ đã ban hành Quyết định 245/QĐ-TTg, phê duyệt Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chính sách này nhấn mạnh tính cấp thiết của việc hoàn thiện và mở rộng hạ tầng điện hạt nhân, đặc biệt là dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Mục tiêu là đưa hai nhà máy điện hạt nhân vào vận hành trước năm 2036, đồng thời tiếp tục chuẩn bị cho các dự án tiếp theo
Ngoài ra, quyết định này đặt ra các mục tiêu trọng tâm nhằm tăng cường tích hợp năng lượng hạt nhân vào nhiều lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, công nghiệp, v.v. để thúc đẩy tăng trưởng ngành.
Quyết định số 245/QĐ-TTg: Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
| Lĩnh vực ứng dụng | Mục tiêu đến năm 2030 | Mục tiêu đến năm 2050 |
| Chăm sóc sức khỏe[4] | · 50–60% tỉnh, thành phố có khoa ung bướu được trang bị thiết bị xạ trị
· 45–50% tỉnh, thành phố có khoa y học hạt nhân. |
· Việt Nam theo kịp mức trung bình về ứng dụng của các quốc gia phát triển.
· Khoa học, công nghệ và việc sử dụng năng lượng hạt nhân trong lĩnh vực y tế đạt các tiêu chuẩn quốc tế. |
| Tài nguyên thiên nhiên và môi trường | · Phát triển công nghệ hạt nhân và bức xạ trong khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước, địa chất, thăm dò khoáng sản, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
· Đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm phân tích đồng vị phóng xạ trong đất, nước và không khí. |
· Các công nghệ hạt nhân tiên tiến được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu, quan trắc khí tượng và thủy văn, quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và nghiên cứu axit hóa đại dương.
· Công nghệ bức xạ được sử dụng để xử lý một số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt. |
| Nông nghiệp | · Đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ tại các vùng nông nghiệp trọng điểm.
· Ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong chọn tạo giống cây trồng, vi sinh học, bảo vệ thực vật, chăn nuôi và thú y. |
· Hình thành một số trung tâm nông nghiệp hạt nhân hàng đầu trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
· Năng lượng hạt nhân được ứng dụng trong chọn tạo và lai giống cây trồng ở trình độ quốc tế, với công nghệ được chuyển giao cho các quốc gia trong khu vực. |
| Công nghiệp | · Ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành công nghiệp, đồng thời phát triển thiết bị bức xạ nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu.
· Mở rộng sản xuất và đẩy nhanh thương mại hóa các sản phẩm và vật liệu dựa trên công nghệ bức xạ. |
· Các ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ được áp dụng rộng rãi, góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành và phát triển kinh tế – xã hội. |
| Nghiên cứu và phát triển, nhân lực | · Nâng cấp các phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hạt nhân.
· Thành lập trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai, với một lò phản ứng hạt nhân công suất 10 MW. · Đào tạo bậc đại học và sau đại học trong nước và quốc tế. · Phát triển các cơ sở giáo dục, hạ tầng y tế và cơ sở nghiên cứu liên quan đến năng lượng hạt nhân. |
· Năng lực khoa học và công nghệ hạt nhân của Việt Nam đã phát triển tương đương mức trung bình của các quốc gia phát triển.
· Cơ sở hạ tầng hiện đại và lực lượng lao động có trình độ cao hỗ trợ việc thúc đẩy các ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và phát triển điện hạt nhân. |

